Báo cáo "Bức tranh mới về Thương mại số năm 2024: Nắm bắt cơ hội xuất khẩu, đạt bước nhảy vọt then chốt" do Deloitte công bố, chủ yếu thảo luận về tình hình phát triển thương mại số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, bao gồm xu hướng thương mại xuyên biên giới, đặc điểm mới của thương mại Trung Quốc, tiềm năng xuất khẩu thương mại số, khảo sát doanh nghiệp xuất khẩu và các yếu tố then chốt cho phát triển trong tương lai, cung cấp cho ngành những hiểu biết thị trường toàn diện và định hướng phát triển tham khảo.

1. Thương mại xuyên biên giới châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục phát triển ở mức cao

- Tăng trưởng thương mại và tăng cường hợp tác khu vực: Thương mại khu vực châu Á - Thái Bình Dương duy trì tăng trưởng, năm 2023 xuất nhập khẩu hàng hóa chiếm 40% toàn cầu, quy mô gần 18 nghìn tỷ USD, dự kiến năm 2024 sẽ tăng lên 18,5 nghìn tỷ USD. Các hiệp định thương mại tự do khu vực như RCEP liên tục giải phóng các lợi ích chính sách, thúc đẩy hệ thống hợp tác chuỗi giá trị trong khu vực ngày càng hoàn thiện, châu Á - Thái Bình Dương trở thành khu vực có hoạt động thương mại đầu tư sôi động và hợp tác chuỗi giá trị chặt chẽ.

- Công nghệ số thúc đẩy tái cấu trúc chuỗi giá trị: Công nghệ số trao quyền cho nền kinh tế thực, tạo cơ hội cho nhiều chủ thể thị trường tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, thúc đẩy đổi mới mô hình nghiên cứu phát triển, sản xuất và tiếp thị của doanh nghiệp, gia tăng giá trị gia tăng và lợi thế cạnh tranh khác biệt, đẩy nhanh tái cấu trúc và nâng cấp chuỗi giá trị. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế số giữa các quốc gia châu Á - Thái Bình Dương không đồng đều, một số quốc gia tồn tại vấn đề cơ sở hạ tầng số chưa hoàn thiện, hạn chế chuyển đổi số chuỗi giá trị khu vực, cần tăng cường nền tảng công nghệ đổi mới và hợp tác trao đổi khu vực của chính phủ.

2. Thương mại Trung Quốc tiến bước vươn khơi, hé lộ bức tranh mới

- Từ xuất khẩu sản phẩm đến kinh doanh toàn cầu: Quá trình quốc tế hóa của các nhà sản xuất và thương nhân Trung Quốc bước vào giai đoạn mới, ngày càng nhiều doanh nghiệp bắt đầu quốc tế hóa sâu hơn, từ xuất khẩu sản phẩm chuyển sang kinh doanh ở nước ngoài, thực hiện chuỗi hoàn chỉnh "chủ thể địa phương, vận hành địa phương, chuỗi cung ứng địa phương", các doanh nghiệp thương mại điện tử xuyên biên giới tiếp tục tăng cường mức độ bản địa hóa, trong tương lai sẽ phát triển từ doanh nghiệp xuất khẩu Trung Quốc thành doanh nghiệp bản địa hóa gắn bó với địa phương.

- Xuất khẩu thương hiệu và mở rộng thị trường mới nổi: Xuất khẩu sản phẩm Trung Quốc hướng tới chuyển đổi nâng cấp "Sản xuất thông minh Trung Quốc", tỷ trọng sản phẩm xuất khẩu giá trị gia tăng cao tăng lên, xây dựng thương hiệu trở thành xu hướng, thương mại điện tử xuyên biên giới tạo cơ hội cho doanh nghiệp Trung Quốc xuất khẩu thương hiệu. Các thị trường mới nổi đại diện là Đông Nam Á, Trung Đông, Mỹ Latinh tăng trưởng mạnh mẽ, thu hút doanh nghiệp Trung Quốc khai thác cơ hội kinh doanh, thương mại điện tử của họ phát triển mạnh mẽ, nhu cầu về hệ sinh thái dịch vụ chất lượng cao tại địa phương của các chủ thể thương mại tăng lên, cải thiện môi trường cơ sở hạ tầng hỗ trợ giúp giải phóng sức sống thương mại và tiềm năng nâng cấp. Đồng thời, thương mại điện tử xuyên biên giới thể hiện thế trăm hoa đua nở, các nền tảng, người bán và nhà cung cấp dịch vụ liên tục tối ưu hóa vai trò và chức năng thông qua phân khúc và hợp tác, thúc đẩy sự phát triển thịnh vượng của thương mại điện tử xuyên biên giới.

3. Chỉ số tiềm năng xuất khẩu thương mại số châu Á - Thái Bình Dương

- Đánh giá môi trường xuất khẩu và phân loại thị trường: Đánh giá môi trường xuất khẩu thương mại số của các nền kinh tế chính châu Á - Thái Bình Dương từ hai khía cạnh tiềm năng tăng trưởng và quy mô thị trường, được phân thành bốn loại: thị trường tiềm năng cao (ví dụ Indonesia, Malaysia, v.v.), thị trường trưởng thành (ví dụ Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc), thị trường giai đoạn đầu (ví dụ Campuchia, Myanmar, Lào) và thị trường mới chớm nở (ví dụ Brunei). Thị trường tiềm năng cao có dân số lớn, tốc độ thâm nhập internet tăng nhanh, tăng trưởng thương mại điện tử mạnh mẽ; thị trường trưởng thành có nền kinh tế phát triển, trình độ số hóa cao, thương mại quốc tế sôi động; thị trường giai đoạn đầu có quy mô và mức độ trưởng thành thương mại số thấp hơn nhưng tăng trưởng nhanh hơn; thị trường mới chớm nở có mức độ trưởng thành và tốc độ tăng trưởng thị trường tổng thể chậm hơn.

- Phân tích các quốc gia xuất khẩu cốt lõi

- Malaysia: Kinh tế số thúc đẩy tăng trưởng thương mại xuyên biên giới, quy mô thị trường thương mại điện tử phát triển nhanh chóng, hệ thống thanh toán số hoàn thiện, xây dựng khu thương mại tự do số khuyến khích doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia thương mại số, hứa hẹn trở thành trung tâm dữ liệu của Đông Nam Á.

- Thái Lan: Tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng số, thu hút đầu tư từ các gã khổng lồ công nghệ toàn cầu, chính phủ tạo môi trường đổi mới số, ứng dụng rộng rãi các công nghệ số tiên tiến để hỗ trợ thương mại điện tử xuyên biên giới, thúc đẩy phát triển thương mại số.

- Việt Nam: Quy mô kinh tế số tăng trưởng vượt bậc, chính phủ ban hành chính sách thúc đẩy tiến trình số hóa, cơ chế quản lý thương mại điện tử xuyên biên giới ngày càng hoàn thiện, trình độ dịch vụ logistics cần được cải thiện, hứa hẹn dẫn đầu tăng trưởng thương mại số Đông Nam Á.

- Singapore: Dựa vào vị thế trung tâm thương mại toàn cầu và trung tâm logistics quốc tế để thúc đẩy sự thịnh vượng của thương mại số, tích cực xây dựng hệ thống thương mại số, phát huy lợi thế kinh tế trụ sở, điều chỉnh chính sách thanh toán để nâng cao năng lực cạnh tranh thương mại số.

- Nhật Bản: Chiến lược số của chính phủ thúc đẩy phát triển thương mại số, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng các quy tắc thương mại số toàn cầu, tỷ lệ thâm nhập thương mại điện tử có dư địa tăng trưởng, chính phủ đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt tạo nền tảng cho tăng trưởng thương mại điện tử.

- Hàn Quốc: Khởi động chiến lược số để nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu, thị trường thương mại điện tử xuyên biên giới dự kiến tiếp tục tăng trưởng tốc độ cao, nhưng các doanh nghiệp thương mại điện tử nước ngoài chiếm ưu thế, chính phủ Hàn Quốc tích cực tham gia xây dựng quy tắc thương mại số, đơn giản hóa quy trình thanh toán.

4. Phân tích khảo sát doanh nghiệp xuất khẩu thương mại số

- Chân dung doanh nghiệp và phân bố thị trường: Doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ là thành phần chính của các doanh nghiệp xuất khẩu thương mại điện tử xuyên biên giới, cạnh tranh trong ngành gay gắt. Hoạt động kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp chủ yếu bao phủ thị trường Bắc Mỹ và châu Âu, tiếp theo là Nhật Bản, Hàn Quốc và Đông Nam Á, thị trường Trung Á và châu Phi chiếm tỷ trọng thấp. Các danh mục nhu cầu chính bao gồm nội thất gia đình, quần áo giày dép, đồ điện tử kỹ thuật số 3C, v.v., xây dựng thương hiệu trong các danh mục sản phẩm thú cưng và y tế sức khỏe chiếm tỷ trọng thấp.

- Nhận thức về xu hướng ngành và lựa chọn chiến lược của doanh nghiệp

- Nhận thức xu hướng: Đa số doanh nghiệp lạc quan về triển vọng phát triển thương mại điện tử xuyên biên giới, cho rằng thương hiệu hóa và tinh phẩm hóa sản phẩm, sự xuất hiện của các đường đua mới, đa dạng hóa kênh là động lực tăng trưởng trong tương lai; một số doanh nghiệp có quan điểm bi quan, chủ yếu bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài như cạnh tranh thị trường, quản lý chính sách, chi phí vận hành.

- Xây dựng thương hiệu: Doanh nghiệp nói chung coi trọng xây dựng thương hiệu, cho rằng nó quan trọng đối với sự phát triển lâu dài của hoạt động kinh doanh, chất lượng sản phẩm và đáp ứng nhu cầu địa phương là các yếu tố then chốt, đa số doanh nghiệp có kế hoạch tăng đầu tư xây dựng thương hiệu, cạnh tranh gay gắt là khó khăn chính trong xây dựng thương hiệu.

- Ứng dụng công nghệ số: Phân tích dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo là các công nghệ số được doanh nghiệp ứng dụng nhiều nhất, mức độ ưu tiên ứng dụng công nghệ liên quan đến nhu cầu kinh doanh, doanh nghiệp coi trọng bảo mật dữ liệu và quyền riêng tư, thực hiện nhiều biện pháp bảo vệ dữ liệu.

- Xu hướng bản địa hóa ở nước ngoài: Doanh nghiệp có thái độ lạc quan về vận hành bản địa hóa ở nước ngoài, đa số có kế hoạch duy trì hoặc tăng đầu tư, lý do chính bao gồm yêu cầu tuân thủ, tiếp cận người tiêu dùng, yêu cầu nền tảng, v.v.; doanh nghiệp coi trọng vận hành bản địa hóa, đầu tư tập trung vào bản địa hóa sản phẩm và đội ngũ, cho rằng bản địa hóa có thể tăng doanh số, v.v., nhưng một số doanh nghiệp chưa thực hiện vận hành bản địa hóa do quy mô kinh doanh, chi phí và các lý do khác.

- Lựa chọn chiến lược của doanh nghiệp: Đa số doanh nghiệp thương mại điện tử xuyên biên giới có kế hoạch xây dựng trang web độc lập, lựa chọn chiến lược đa dạng, một số chủ yếu dựa vào nền tảng, một số kết hợp nền tảng và trang web độc lập, số ít chủ yếu dựa vào trang web độc lập. Doanh nghiệp chú trọng vận hành "tinh gọn", xác định rõ đối tượng mục tiêu, tối ưu hóa trang sản phẩm, theo dõi phản hồi của khách hàng, v.v., một số doanh nghiệp chọn tập trung sử dụng một vài nền tảng hoặc mở cửa hàng hàng loạt trên nhiều nền tảng, trọng tâm kinh doanh tập trung vào thị trường cốt lõi hoặc bố trí đa thị trường.

5. Các yếu tố then chốt cho phát triển thương mại số châu Á - Thái Bình Dương trong tương lai

- Công nghệ số tối ưu hóa các khâu thương mại xuyên biên giới: Công nghệ số như trí tuệ nhân tạo tạo sinh, SaaS đóng vai trò quan trọng trong các khâu của thương mại điện tử xuyên biên giới, dịch vụ thanh toán xuyên biên giới mở rộng sang dịch vụ tài chính xuyên biên giới toàn diện, tối ưu hóa trải nghiệm người bán; trí tuệ nhân tạo tạo sinh hỗ trợ giảm chi phí và tăng hiệu quả trong khâu tiếp thị và bán hàng; dịch vụ SaaS cung cấp cơ hội phát triển cho người chơi trang web độc lập, ứng dụng công nghệ trong ngành không ngừng mở rộng và đào sâu.

- Hệ sinh thái ngành liên tục được tối ưu hóa thúc đẩy phát triển: Về hệ sinh thái chính sách, RCEP có hiệu lực nâng cao sự coi trọng của các nước ASEAN đối với thương mại xuyên biên giới, các nước xây dựng và hoàn thiện các chính sách liên quan; về hệ sinh thái dịch vụ, các nền tảng thương mại điện tử Trung Quốc cung cấp hỗ trợ cho người bán xuyên biên giới, như vốn, vận hành bản địa hóa và xuất khẩu công nghệ; về mô hình dịch vụ, mô hình ủy thác đa dạng hóa, trên cơ sở ủy thác toàn phần, theo dõi ủy thác bán phần, mang đến cho người bán nhiều lựa chọn hơn.

- "Bản địa hóa" trở thành chiến lược phát triển ưu tiên: "Bản địa hóa" thương mại điện tử xuyên biên giới xuyên suốt toàn bộ chuỗi từ vận hành đầu đến chuỗi cung ứng cuối và quản lý doanh nghiệp, bao gồm bản địa hóa đội ngũ, sản phẩm, tiếp thị, logistics và vận hành, nhằm đáp ứng tốt hơn các sở thích tiêu dùng và nhu cầu thị trường khác nhau của các nước ASEAN, nâng cao năng lực cạnh tranh.

- Người chơi trong ngành hướng tới phát triển đa dạng hóa, thương hiệu hóa và tinh gọn hóa: Sự phát triển của ngành thương mại điện tử xuyên biên giới thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi từ "doanh nghiệp siêu nhỏ xuyên quốc gia" thành "doanh nghiệp nhỏ khổng lồ xuyên biên giới", sức mạnh thương hiệu, sức mạnh kênh và sức mạnh vận hành trở thành chìa khóa cạnh tranh, doanh nghiệp chú trọng bố trí kênh đa dạng, như mở rộng xây dựng trang web độc lập, kết hợp nền tảng và trang web độc lập; thúc đẩy phát triển thương hiệu hóa, tăng đầu tư xây dựng thương hiệu; đào sâu khái niệm vận hành "tinh gọn", bao gồm tinh gọn hóa nhiều mặt như sản phẩm, tiếp thị, hậu mãi và quản lý.

- Xu hướng bảo vệ quyền riêng tư dữ liệu và tuân thủ: Các quốc gia coi trọng bảo vệ quyền riêng tư dữ liệu, đẩy nhanh lập pháp, doanh nghiệp thương mại điện tử xuyên biên giới cần quan tâm đến động thái quy định của quốc gia mục tiêu, nâng cao trình độ tuân thủ dữ liệu, tránh hậu quả pháp lý, có thể thực hiện các biện pháp như rà soát dữ liệu kinh doanh, điều chỉnh triển khai máy chủ, hợp tác với doanh nghiệp bảo mật bên thứ ba, đào tạo nhân viên. Đồng thời, thương mại điện tử xuyên biên giới đối mặt với các ràng buộc tuân thủ ở cấp độ thương mại quốc tế và vận hành doanh nghiệp, nền tảng và người bán cần cùng nhau nỗ lực ứng phó, nền tảng tăng cường giao tiếp với thị trường mục tiêu, xây dựng hệ thống nội bộ và đào tạo người bán, người bán tuân thủ nền tảng và quy định địa phương, tránh rủi ro vi phạm.

2024年数字贸易新图景报告-12024年数字贸易新图景报告-22024年数字贸易新图景报告-32024年数字贸易新图景报告-42024年数字贸易新图景报告-5